Bài chuyển từ Blog Trại tò vò sang
Hơn bốn
mươi năm nay, nói chính xác là 43 năm 2 tháng, từ ngày chị Nguyễn Thị
Song được tuyên dương Anh hùng lao động , hôm nay tôi mới có điều kiện
đến thăm chị.
Tháng
2/1967, thời ấy, tôi đang chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên – Huế,
biết được chuyện chị Nguyễn Thị Song ở thôn Trung Hòa, xã Mai Trung, quê
hương Hiệp Hòa mình được tuyên dương anh hùng lao động về thành tích
cải tạo đất bạc mầu, trồng khoai lang. Tôi đọc trên Báo, có ảnh chị và
cánh đồng khoai lang với những luống khoai thẳng tắp, mênh mông. Tôi nhớ
mãi một câu chị nói mà bài báo viết lại là “bịt mắt cắt dây”. Mới đầu
tôi cứ tưởng là chị lao động giỏi đến mức bịt mắt mình lại để cắt dây
khoai giống mà vẫn chính xác. Sau mới hiểu, đó là kỹ thuật cắt dây khoai
giống để khi trồng xuống, dây khoai nhanh ra dễ và cũng cho nhiều củ
hơn. Tức là khi cắt dây khoai lang giống, hai ngón tay cầm kín mắt dây
khoai, gọi là "bịt mắt", sau đó lấy dao cắt dây sát đầu ngóa tay.
Bây giờ mà
nói chuyện trồng khoai lang trở thành anh hùng thì con cháu chúng ta
khó mà hình dung được. Có thể họ sẽ buồn cười, không hiểu nổi tình hình
thế nào mà thời ông bà, bố mẹ lại có chuyện trồng khoai lang cũng trở
thành anh hùng. Đúng thế. Phải là những người ở vào độ tuổi 60 trở lên
mới biết và mới hiểu được giá trị của những củ khoai lang, những cánh
đồng khoai lang thời ấy. Nhất là những ai đã trải qua nạn đói đầu năm
1955 (ở quê tôi), phải ăm củ chuối thay cơm thì mới thấy hết giá trị của
củ khoai lang.
Từ những
năm đầu của thập kỷ 1960, ở Miền Bắc quê mình, lương thực được chia theo
tiêu chuẩn, theo độ tuổi cho từng người. Ngô, khoai, sắn đều được xếp
là lương thực quy ra thóc gạo. Ba ki-lô-gam khoai lang được tính bằng
một ki-lô-gam gạo. Tôi còn nhớ, từ năm học 1961-1963 tôi học ở trường
cấp III Ngô Sĩ Liên, thị xã Bắc Giang (bây giờ là trường PTTH – Thành
phố Bắc Giang), được ăn tiêu chuẩn 13kg gạo một tháng. Trong đó được mua
10kg gạo, còn 3kg phiếu được mua 9kg khoai lang, hoặc 3kg sắn khô.
Từ năm
1960, thế hệ thanh niên chúng tôi sôi nổi với phong trào “Thanh niên
tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm”. Ở nông thôn, thanh niên hăng hái
tìm mọi cách để đưa năng suất lúa mầu lên, với mục đích làm
ra nhiều lương thực để không bị đói và sau này có đủ lương thực chi
viện cho chiến trường miền Nam . Mạnh mẽ nhất là phong trào “sạch làng
tốt ruộng”, làm phân xanh cải tạo đồng ruộng. Thôn tôi liền đồng với
thôn Trung Hòa, cùng tưới nước của một con mương. Đồng đất quê ta thời
đó là đất bạc mầu, năng suất lúa rất thấp, trung bình chỉ đạt
40-50kg/sào. Cánh đồng tốt nhất cũng chỉ đạt 80-100kg/sào. Cây mầu, chủ
yếu là cây khoai lang giữ vị trí rất quan trọng.
Thực hiện
kế hoạch 5 năm lần thưc nhất theo Nghị quyết Đại hội lần thứ 3 của Đảng,
Thôn Trung Hòa xã Mai Trung được tỉnh, huyện chỉ đạo cải tạo đất bạc
mầu, đưa cây khoai lang trở thành cây lương thực có năng suất cao. Chị
Nguyễn Thị Song lúc đó là một cán bộ Đoàn tích cực, một đảng viên trẻ.
Chị không chỉ xông xáo trong các phong trào của thôn, của xã, trong sản
xuất chị luôn có những sáng kiến cải tiến kỹ thuật để đưa năng suất lên
cao, đặc biệt là cây khoai lang. Cây khoai lang thời đó trồng bình
thường ở quê ta chỉ thu được trên dưới 300kg/sào, ở Trung Hòa đạt đến
trên 1200kg/sào. Đó chính là một kỳ tích. Huyện, tỉnh đã rút ra được
nhiều bài học kinh nghiệm từ Trung Hòa, từ Mai Trung để nhân rộng ra
toàn huyện, toàn tỉnh. Cây khoai lang Trung Hòa đã đóng góp tích cực cho
nhiệm vụ sản xuất lương thực của địa phương.
Tháng
1/1967, Chị Nguyễn Thị Song, bí thư chi bộ, phó Chủ nhiệm phụ trách kỹ
thuật hợp tác xã Trung Hòa được chọn đi dự Đại hội liên hoan anh hùng
chiến sĩ thi đua toàn Miền Bắc. Ngày 31/01/1967, chị được Đại hội tuyên
dương danh hiệu Anh hùng lao động. Theo chị nói, đó là một bất ngờ mà
chị không nghĩ tới. Đó cũng là vinh dự không của riêng chị mà là vinh dự
của cả nhân dân thôn Trung Hòa, nhân dân xã Mai Trung. Nói rộng ra đó
cũng là vinh dự của nhân dân huyện Hiệp Hòa. Ở chiến trường, nghe đài,
đọc báo, chúng tôi cũng thấy tự hào về người anh hùng của quê hương
mình.
Tôi đi qua
thôn Trung Hòa nhiều lần, nhưng hôm nay tôi mới ghé thăm nhà chị. Khi
tôi đến, vợ chồng chị đang tiếp đ/c Nguyễn Văn Tám, chi hội trưởng Cựu
chiến binh, trao đổi với anh về công việc của chi hội. Cùng là cựu chiến
binh nên chúng tôi chuyện trò với nhau rất vui. Chồng chị, anh Ngô Văn
Bốn là một cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây
Nguyên, thuộc tiểu đoàn 3, Trung đoàn 205, Sư đoàn 3 từ đầu năm 1971.
Anh kể lại, anh bị thương trong một trận đánh ở đường số 7, thuộc địa
phận tỉnh Bình Dương, thương tật hạng 4/4. Tháng 6/1976, anh được phục
viên. Vợ chồng anh chị cùng một tuổi, mới tổ chức mừng tuổi 70 tết Canh
Dần vừa rồi (tính theo tuổi đẻ của các cụ). Anh chị cho biết, khi phục
viên về, anh tiếp tục tham gia công tác, làm văn phòng UBND xã nhiều
năm. Chị thì công tác ở xã đến năm 1982 được nghỉ hưu, nhưng vẫn được bà
con tín nhiệm bầu làm hội phó Hội người cao tuổi cho đến hết năm 2009,
chị đề nghị mãi bà con mới đồng ý cho nghỉ. Chị nói với tôi, hai năm nữa
chị sẽ nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Chị được kết nạp vào Đảng năm
1961, năm chị vừa tròn 20 tuổi. Vợ chồng chị đang có ý định đề nghị chi
bộ cho miễn sinh hoạt. Tôi đùa vui, hai ông bà đều chưa có cái tóc bạc
nào, xin miễn sinh hoạt thế nào được. Anh chị cùng cười. Chị bảo, tôi
cũng có đôi sợi bạc rồi. Thật là tuyệt. Hai ông bà ở tuổi 70 mà mới có
đôi sợi tóc bạc thì còn gì đẹp bằng. Tôi để ý, riêng ông thì hầu như
chưa có sợi tóc bạc nào. Cả hai ông bà đều khỏe. Suốt buổi nói chuyện
với tôi, anh chị không đề cập gì đến chuyện bệnh tật và không có biểu
hiện mệt mỏi của tuổi già như nhiều người khác tôi thường gặp.
Vợ chồng
chị có 4 người con. Con gái đâu Ngô Thị Hương, sinh năm 1966, đang làm
Hiệu Phó Trường THCS xã Danh Thắng. Con trai thứ hai và hai con gái đang
lao động ở Cộng hòa Séc. Con trai anh chị sang Cộng hòa Séc học nghề từ
năm 1988, rồi ở lại lao động, làm dịch vụ. Sau này đã đón cả hai em gái
sang cùng làm. Các cháu đều đã có gia đình.
Nhà chị,
cũng như nhà của bà con thôn Trung Hòa đều là nhà ngói, nhà tầng. Đường
thôn, ngõ xóm đều đã bê tông hóa, sạch sẽ, khang trang.
Tôi đã ghi
lại một số hình ảnh ở gia đình chị Nguyễn Thị Song – gia đình người Anh
hùng lao động và thôn Trung Hòa ngày nay, sau nửa thế kỷ đi lên theo
con đường của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Bác Hồ vĩ đại dẫn dắt, để minh
chứng cho sự đổi thịt thay da của đồng đất Trung Hòa bạc mầu, của nhân
dân thôn Trung Hòa nghèo khó năm xưa.
Chân dung anh hùng Nguyễn Thị Song
Vợ chồng chị Song
Nhà chị Song
Làng xóm thôn Trung Hòa ngày nay
Đường làng
Đồng lúa quanh thôn Trung Hòa
Cụm dân cư chợ Trung Hòa
Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013
Kỷ niện 47 năm ngày cưới
Hôm nay, ngày 5 tháng 5 – ngày
tết Đoan ngọ, là ngày cưới lần thứ 47 của mình. Bây giờ nhớ lại ngày cưới của
mình cũng thật buồn cười. Hồi ấy, bọn mình nói đến ngày cưới thật đơn giản, cứ
dửng dưng, chẳng có chuẩn bị sắm sửa gì cho ngày cưới như thế hệ trẻ bây giờ.
Quần áo chẳng may, chăn màn cũng chẳng sắm.
Hôm ấy, tính theo dương lịch là ngày 25/6/1963, ngày cuối cùng mình thi tốt nghiệp cấp III, thi vấn đáp môn lịch sử. Mình thi vào tốp thứ 2, nhúp được câu hỏi về chiến thắng Điện Biên Phủ, một bài mình rất thuộc, trả lời rành rọt, mạch lạc. Cô giáo dậy lịch sử trực tiếp chấm thi, cho mình 4 điểm cộng (theo thang 5 điểm). Khoảng 9 giờ sáng thì thi xong, mình ra ga Bắc Giang lên tầu về ga Sen Hồ rồi thuê xe đạp thồ hết một đồng rưỡi về đến Thắng, đi bộ về nhà. Khoảng 12 giờ thì về đến nhà. Mọi việc cỗ bàn ở nhà bố mẹ đã lo đầy đủ. Phần thủ tục lễ cưới thì anh Mùi, anh con ông bác làm phó bi thư xã đoàn đã lo cho tất cả. Thủ tục đăng ký kết hôn thì do chú Tế, là em thuộc cháu dì cháu dà làm văn phòng UBND xã lo cho, đem về, tối tổ chức xong lễ cưới mới ký và lấy đăng ký. Bà nhà mình năm đó đang học năm cuối ở trường Trung cấp nông nghiệp tỉnh Hà Bắc. Trước ngày cưới 3 ngày, nhà trường tổ chức đi thăm quan Hải Phòng, Đồ Sơn. 9 giờ sáng hôm ấy mới lên tầu về Hà nội rồi chuyển tầu Thái Nguyên về ga Trung Giã, xuống tầu đi bộ 10km về nhà. Có mấy chị em cùng lớp về dự đám cưới. Gần 5 giờ chiều vẫn chưa thấy về, mình đạp xe đi đón. Ra đến gần dốc Bách nhẫn thì gặp. Gần 6 giờ chiều mới về đến nhà. Nhá nhem tối, gà lên chuồng, có lẽ là hơn 7 giờ tối thì nhà trai đến đón dâu. Thủ tục đón dâu cũng rất đơn giản. Các ông, các bà nói chuyện với nhau gì đó rồi hai họ dẫn cô dâu, chú rể về nhà trai. Chẳng có hoa cài túi, hoa đón cô dâu, chụp ảnh “rườm rà” như bây giờ. Hôm ấy trời có trăng. Trăng đầu tháng. Đón dâu về đến nhà thì trăng sáng rõ. Phòng cưới dựng bằng các cây tre, mượn vỏ chăn tháo ra căng lên trên và xung quanh, kê 3 dẫy bàn ghế để hai họ ngồi. Cô dâu chú rể có một cái bàn riêng với hai cái ghế tựa, không có trang trí gì. Chủ hôn là anh Mùi- Phó bí thư xã Đoàn. Chủ hôn “tuyên bố lý do”, mời đại diện hai họ phát biểu, mời cô dâu chú rể phát biểu. Những người phát biểu đều chúc cô dâu chú rể “vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Khi mình phát biểu hình như mình cũng “hứa quyết tâm” “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đoàn, vui duyên mới không quên nhiệm vụ” gì đấy. Cô dâu không phát biểu. Hai họ nói chuyện, hát hò gần một tiếng đồng hồ thì kết thúc. Mình có anh bạn Nguyễn Yên quê ở Yên Lư huyện Yên Dũng, hai đứa cùng học với nhau từ năm lớt 8, cùng làm cán bộ đoàn. Yên làm Bí thư liên chi đoàn khối, vừa được kết nạp vào Đảng, cùng trúng tuyển bộ đội với mình, theo quyết định gọi nhập ngũ thì ngày 2/7/1963 chúng mình sẽ tập trung lên đường nhập ngũ. Hôm ấy cùng thi tốt nghiệp nhưng Yên thi sau, buổi chiều mới đi xe đạp từ Bắc Giang về nhà mình để dự đám cưới của mình. Phát biểu tại đám cưới, Yên “thay mặt chi bộ, thay mặt BCH Đoàn trường” dặn dò mình “rất oách”.
Nói về việc cưới của vợ chồng mình cũng buồn cười. Chúng mình yêu nhau từ năm mình học lớp 7, vợ mình học lớp 6. Hai nhà ở hai xóm nhưng cùng đi một đường từ nhà lên Thắng, nơi có trường cấp II duy nhất của huyện. Chúng mình thân nhau rồi yêu nhau. Nhưng nói đến chuyện cưới nhau thì chẳng biết thế nào. Tất cả là do bố mình và bà mẹ vợ mình xếp đặt, định đoạt. Không có các cụ thì không biết chúng mình có cưới nhau hay không. Cưới nhau được một tuần,cũng không nghĩ, không biết thế nào là “tuần trăng mật” như con cháu bây giờ. Đúng là “thanh niên nhà quê”, chúng mình cũng “ngố”. Ngày 2/7/1963, chúng mình đưa nhau lên Bắc Giang. Nhà mình tiếp tục đi học. Mình thì lên đường nhập ngũ, chẳng có cảm nghĩ, cảm giac gì là mới cưới vợ, cưới chồng. Sáng ngày 3/7/1963, mình tập trung tại trường Ngô Sĩ Liên nhà mình cùng một cô bạn tên là Ngân ở trường trung cấp Nông nghiệp xuống tiễn mình lên đường. Mình nhận quân trang xong, theo đội hình đơn vị ra ga Bắc Giang, lên tầu xuôi Hà Nội rồi lên Tây Bắc. Chẳng có cảm giác lưu luyến nhớ nhung gì ghê gớm cả. Cuối năm 1963, mình được nghỉ phép từ ngày 20 tháng chạp đến ngày 10 tháng giêng năm 1964 để “đi B”. Vợ chồng mình sống với nhau 20 ngày tết đó mới là “tuần trăng mật”. Hết phép, mình lên đường vào Thanh Hóa huấn luyện “đi B”. Đáng lẽ đơn vị mình lên đường tháng 4/1963, nhưng ở Quảng Trị - Thừa Thiên địch càn lên miền núi, bị tắc đường, phải lui lại. Đơn vị có chủ trương tất cả anh em có vợ được viết thư đón vợ đến đơn vị, không được về phép. Mình viết thư về, ông cụ nhà mình thu xếp đưa nhà mình vào tận Thọ Xuân Thanh Hóa. Cụ ở lại hai hôm rồi về. Nhà mình ở lại được 15 ngày. Đơn vị có lệnh lên đường thì nhà mình về. Và vợ chồng mình có Ngọc Oanh ngày ấy.
Hôm nay, kỷ niệm ngày cưới lần thứ 47, vợ chồng mình ôn lại chuyện xưa, ghi lại đây để cho con cháu biết chuyện các cụ ngày xưa cưới xin thế nào.
Nói thêm một chút về cỗ cưới. Cỗ cưới thì thật giản đơn. Nhà trai đem sang nhà gái được 7 kg thịt, một nồi gạo (16kg), một gánh thức nấu gồm một buồng chuối xanh và bí xanh, một nồi giá đõ xanh gia đình tự ủ. Phần nhà trại thì hết nhiều hơn, chủ yếu là tốn nhiều gạo hơn vì họ đông.
Ngày ấy, may có anh cán bộ Công an cùng công tác với bố vợ mình, đem máy ảnh về chụp cho chúng mình cái ảnh hai đứa đứng ở gốc mít ngoài cổng nhà ông bà ngoại. Cảnh ấy mình chọn, bảo anh công an chụp. Bây giờ xem lại thấy cũng có ý nghĩa. Cây mít, quả mít cũng là một đặc trưng của Tết đoan ngọ MÙNG NĂM THÁNG NĂM.
Hôm ấy, tính theo dương lịch là ngày 25/6/1963, ngày cuối cùng mình thi tốt nghiệp cấp III, thi vấn đáp môn lịch sử. Mình thi vào tốp thứ 2, nhúp được câu hỏi về chiến thắng Điện Biên Phủ, một bài mình rất thuộc, trả lời rành rọt, mạch lạc. Cô giáo dậy lịch sử trực tiếp chấm thi, cho mình 4 điểm cộng (theo thang 5 điểm). Khoảng 9 giờ sáng thì thi xong, mình ra ga Bắc Giang lên tầu về ga Sen Hồ rồi thuê xe đạp thồ hết một đồng rưỡi về đến Thắng, đi bộ về nhà. Khoảng 12 giờ thì về đến nhà. Mọi việc cỗ bàn ở nhà bố mẹ đã lo đầy đủ. Phần thủ tục lễ cưới thì anh Mùi, anh con ông bác làm phó bi thư xã đoàn đã lo cho tất cả. Thủ tục đăng ký kết hôn thì do chú Tế, là em thuộc cháu dì cháu dà làm văn phòng UBND xã lo cho, đem về, tối tổ chức xong lễ cưới mới ký và lấy đăng ký. Bà nhà mình năm đó đang học năm cuối ở trường Trung cấp nông nghiệp tỉnh Hà Bắc. Trước ngày cưới 3 ngày, nhà trường tổ chức đi thăm quan Hải Phòng, Đồ Sơn. 9 giờ sáng hôm ấy mới lên tầu về Hà nội rồi chuyển tầu Thái Nguyên về ga Trung Giã, xuống tầu đi bộ 10km về nhà. Có mấy chị em cùng lớp về dự đám cưới. Gần 5 giờ chiều vẫn chưa thấy về, mình đạp xe đi đón. Ra đến gần dốc Bách nhẫn thì gặp. Gần 6 giờ chiều mới về đến nhà. Nhá nhem tối, gà lên chuồng, có lẽ là hơn 7 giờ tối thì nhà trai đến đón dâu. Thủ tục đón dâu cũng rất đơn giản. Các ông, các bà nói chuyện với nhau gì đó rồi hai họ dẫn cô dâu, chú rể về nhà trai. Chẳng có hoa cài túi, hoa đón cô dâu, chụp ảnh “rườm rà” như bây giờ. Hôm ấy trời có trăng. Trăng đầu tháng. Đón dâu về đến nhà thì trăng sáng rõ. Phòng cưới dựng bằng các cây tre, mượn vỏ chăn tháo ra căng lên trên và xung quanh, kê 3 dẫy bàn ghế để hai họ ngồi. Cô dâu chú rể có một cái bàn riêng với hai cái ghế tựa, không có trang trí gì. Chủ hôn là anh Mùi- Phó bí thư xã Đoàn. Chủ hôn “tuyên bố lý do”, mời đại diện hai họ phát biểu, mời cô dâu chú rể phát biểu. Những người phát biểu đều chúc cô dâu chú rể “vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Khi mình phát biểu hình như mình cũng “hứa quyết tâm” “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đoàn, vui duyên mới không quên nhiệm vụ” gì đấy. Cô dâu không phát biểu. Hai họ nói chuyện, hát hò gần một tiếng đồng hồ thì kết thúc. Mình có anh bạn Nguyễn Yên quê ở Yên Lư huyện Yên Dũng, hai đứa cùng học với nhau từ năm lớt 8, cùng làm cán bộ đoàn. Yên làm Bí thư liên chi đoàn khối, vừa được kết nạp vào Đảng, cùng trúng tuyển bộ đội với mình, theo quyết định gọi nhập ngũ thì ngày 2/7/1963 chúng mình sẽ tập trung lên đường nhập ngũ. Hôm ấy cùng thi tốt nghiệp nhưng Yên thi sau, buổi chiều mới đi xe đạp từ Bắc Giang về nhà mình để dự đám cưới của mình. Phát biểu tại đám cưới, Yên “thay mặt chi bộ, thay mặt BCH Đoàn trường” dặn dò mình “rất oách”.
Nói về việc cưới của vợ chồng mình cũng buồn cười. Chúng mình yêu nhau từ năm mình học lớp 7, vợ mình học lớp 6. Hai nhà ở hai xóm nhưng cùng đi một đường từ nhà lên Thắng, nơi có trường cấp II duy nhất của huyện. Chúng mình thân nhau rồi yêu nhau. Nhưng nói đến chuyện cưới nhau thì chẳng biết thế nào. Tất cả là do bố mình và bà mẹ vợ mình xếp đặt, định đoạt. Không có các cụ thì không biết chúng mình có cưới nhau hay không. Cưới nhau được một tuần,cũng không nghĩ, không biết thế nào là “tuần trăng mật” như con cháu bây giờ. Đúng là “thanh niên nhà quê”, chúng mình cũng “ngố”. Ngày 2/7/1963, chúng mình đưa nhau lên Bắc Giang. Nhà mình tiếp tục đi học. Mình thì lên đường nhập ngũ, chẳng có cảm nghĩ, cảm giac gì là mới cưới vợ, cưới chồng. Sáng ngày 3/7/1963, mình tập trung tại trường Ngô Sĩ Liên nhà mình cùng một cô bạn tên là Ngân ở trường trung cấp Nông nghiệp xuống tiễn mình lên đường. Mình nhận quân trang xong, theo đội hình đơn vị ra ga Bắc Giang, lên tầu xuôi Hà Nội rồi lên Tây Bắc. Chẳng có cảm giác lưu luyến nhớ nhung gì ghê gớm cả. Cuối năm 1963, mình được nghỉ phép từ ngày 20 tháng chạp đến ngày 10 tháng giêng năm 1964 để “đi B”. Vợ chồng mình sống với nhau 20 ngày tết đó mới là “tuần trăng mật”. Hết phép, mình lên đường vào Thanh Hóa huấn luyện “đi B”. Đáng lẽ đơn vị mình lên đường tháng 4/1963, nhưng ở Quảng Trị - Thừa Thiên địch càn lên miền núi, bị tắc đường, phải lui lại. Đơn vị có chủ trương tất cả anh em có vợ được viết thư đón vợ đến đơn vị, không được về phép. Mình viết thư về, ông cụ nhà mình thu xếp đưa nhà mình vào tận Thọ Xuân Thanh Hóa. Cụ ở lại hai hôm rồi về. Nhà mình ở lại được 15 ngày. Đơn vị có lệnh lên đường thì nhà mình về. Và vợ chồng mình có Ngọc Oanh ngày ấy.
Hôm nay, kỷ niệm ngày cưới lần thứ 47, vợ chồng mình ôn lại chuyện xưa, ghi lại đây để cho con cháu biết chuyện các cụ ngày xưa cưới xin thế nào.
Nói thêm một chút về cỗ cưới. Cỗ cưới thì thật giản đơn. Nhà trai đem sang nhà gái được 7 kg thịt, một nồi gạo (16kg), một gánh thức nấu gồm một buồng chuối xanh và bí xanh, một nồi giá đõ xanh gia đình tự ủ. Phần nhà trại thì hết nhiều hơn, chủ yếu là tốn nhiều gạo hơn vì họ đông.
Ngày ấy, may có anh cán bộ Công an cùng công tác với bố vợ mình, đem máy ảnh về chụp cho chúng mình cái ảnh hai đứa đứng ở gốc mít ngoài cổng nhà ông bà ngoại. Cảnh ấy mình chọn, bảo anh công an chụp. Bây giờ xem lại thấy cũng có ý nghĩa. Cây mít, quả mít cũng là một đặc trưng của Tết đoan ngọ MÙNG NĂM THÁNG NĂM.
Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013
Người thầy thuốc suốt đời vì sức khỏe nhân dân
Sau
khi Báo Quân đội nhân dân đăng bài “Thầy Vinh và phương pháp điều trị đặc biệt”
(hiephoa.net đã đăng lại), tôi đã nhận được một số cuộc điện thoại hỏi số điện
thoại của thầy thuốc Nguyễn Quang Vinh để liên hệ, hỏi thêm về một số bệnh khác
thầy Vinh có chữa được không. Tôi xin thông tin thêm một số thông tin, hình ảnh
bệnh nhân đã và đang điều trị để bạn đọc tham khảo.
Thầy
thuốc Nguyễn Quang Vinh nói với tôi: ông có thể chữa khỏi các bệnh đau xương
khớp, thần kinh, tai biến mạch máu não, Viêm xoang, Zona thần kinh. Bệnh mới
phát trong vòng 2 tháng trở lại (đến càng sớm càng tốt) thì chữa được khỏi hoàn
toàn. Bệnh phát đã lâu, bệnh mãn tính thì chữa khỏi được từng thời gian (tùy từng trường hợp bệnh). Khi bệnh tái phát, nếu bệnh nhân đến chữa
tiếp ngay thì nhanh khỏi hơn và thời gian khỏi cũng dài hơn.
Trường
hợp bệnh nhân Nguyễn Khắc H. đã đăng trong bài viết (có tên, điạ chỉ cụ thê),
nhưng do yêu cầu nhiệm vụ, Báo QĐND không thông tin. Tôi thông tin thêm, Vợ
bệnh nhân cũng là một bác sĩ đang công tác ở một bệnh viện đầu ngành tại Hà
Nội. Chị đã chấp nhận đưa chồng tìm vê điều trị tại nhà thầy thuốc Nguyễn Quang
Vinh và chị hoàn toàn tin tưởng. Sau khi chồng chị khỏi bệnh, vợ chồng chị trở thành người thân của gia đình
thầy thuốc.
Số
điện thoại của thầy thuốc nguyễn Quang Vinh: 0985 287 139
Dưới
đây là một số hình ảnh
Huy chương vì sức khỏe nhân dân Bộ Trưởng Bộ Y tế tặng cho thầy thuốc Vinh năm 1999
Thầy Vinh đang chữa bệnh cho bênh nhân ở Sóc Sơn bị đau khớp gối và khớp háng đã nhiều năm; anh đã chữa ở nhiều bệnh viện không khỏi. Có bệnh viện nói phải mổ với giá 100 triệu đồng, thời gian điều trị 1 năm. Thày thuốc Vinh điều trị 3 ngày thì anh tự đi được xe máy đến điầu trị. Bệnh nhân ngồi ở giường quê ở huyện Việt Yên, bị đau cột sống, mới điều trị ngày thứ 2 đã đỡ.
Ông Hoàng Văn Khoan 79 tuổi, người bị tai biến mạch máu nãothập tử nhất sinh, được thày Vinh cứu sống 20 năm trước. Hiện ông vẫn khỏe mạnh bình thường
Anh Ngô Văn Doanh 25 tuổi, sau tai nạn xe máy được bệnh viện Việt Đức cứu sống nhưng bị liệt nửa người do chấn thương não. Đã được thày Vinh chữa khỏi hoàn toàn. Anh đã hồi phục như người bình thường.
Thày Vinh và phương pháp điều trị đặc biệt
Thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,
Quân y sĩ Nguyễn Quang Vinh đã không quản khó khăn, thử thách, tận tình
vì đồng đội. Năm 1984 nghỉ hưu về địa phương, ông lại cứu chữa thành
công nhiều ca bệnh hiểm nghèo. Ở tuổi 74, dù đã truyền nghề cho con gái,
nhưng ông vẫn say sưa với công việc chữa bệnh cứu người. Ông sẽ còn
chữa bệnh đến khi nào sức khỏe không cho phép. Đó là tâm nguyện của ông,
người thầy thuốc suốt đời vì sức khỏe nhân dân...
Gia đình, làng xóm thường gọi ông là
Vính - Nguyễn Quang Vính. Khi đi làm công nhân nhà máy Gỗ - Diêm Cầu
Đuống năm 1959, bỏ dấu sắc, nên tên của ông trong hồ sơ là Nguyễn Quang
Vinh. Làm công nhân một thời gian, nhà máy đã cử ông đi học lớp y tá
trưởng, sau đó ông nhập ngũ và tham gia chiến đấu ở chiến trường B2.
Ngoài nhiệm vụ cứu chữa thương binh, có giai đoạn ông còn vinh dự được
tham gia chăm sóc sức khỏe Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trong chiến
trường. Những năm ở chiến trường, ông đã 11 lần được tặng danh hiệu Dũng
sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ Quyết Thắng, Chiến sĩ thi đua của Cụm điệp báo A26
thuộc J22. Năm 1977, ông được chuyển công tác về Cục 2, Bộ Tổng tham mưu
cho đến lúc nghỉ hưu.
Thầy thuốc Nguyễn Quang Vinh chữa bệnh cho bệnh nhân tại phòng khám gia đình.
Về đời thường, công việc trị bệnh cứu
người của người thầy thuốc vẫn khiến ông ngày đêm bận rộn với người bệnh
đủ thành phần. Khởi đầu vẫn là những cán bộ, chiến sĩ, những cựu chiến
binh đã biết ông, tìm đến ông để được khám và chữa bệnh. Rồi họ giới
thiệu ông với những người bệnh khác. Ông ở đâu là có bệnh nhân đến với
ông ở đó, dù lúc ở TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế hay lúc về quê ông tại
thôn Cẩm Trung, xã Xuân Cẩm (Hiệp Hòa, Bắc Giang). Bởi ở đâu đồng đội cũ
cũng tìm đến ông, nhờ ông chữa một số bệnh hiểm nghèo.
Phòng điều trị của ông thật giản đơn,
chỉ là một gian buồng sạch, gọn, thoáng mát với hai chiếc giường, một
chiếc bàn con để các dụng cụ điều trị, một chiếc ghế để ông ngồi khi
thăm khám, điều trị cho bệnh nhân. Nơi đón tiếp bệnh nhân là gian tiếp
khách hằng ngày của gia đình, có đủ bàn ghế, nước uống. Khi bệnh nhân
đông thì có thêm hai bộ bàn ghế đá kê ở “vườn cảnh” trước sân, có bóng
mát để mọi người ngồi chờ. Bệnh nhân ở xa thì lưu trú để điều trị vài
ngày. Gia đình ông có một ngôi nhà riêng dành cho những bệnh nhân lưu
trú. Bệnh nhân đến với ông đều là những người đã được các bệnh viện
khám, xác định bệnh, điều trị nhiều ngày, nhiều lần, thậm chí là nhiều
năm không khỏi. Trừ một vài trường hợp người làng khi bị bệnh phải cấp
cứu mời ông đến thăm khám, điều trị ban đầu.
Dụng cụ khám bệnh, điều trị của ông
cũng chỉ là những dụng cụ thông thường cần thiết của một y, bác sĩ. Một
cái ống nghe để đo huyết áp, nhịp tim, chẩn đoán bệnh trước khi xác định
phác đồ điều trị, cùng những bộ kim châm cứu đủ các cỡ. Nếu nói là đặc
biệt thì chỉ có hộp giác huyệt bằng phương pháp giác hút do một người
nhà bệnh nhân tặng ông. Tủ thuốc và bơm tiêm được bảo quản riêng, khi
dùng đến mới lấy ra. Thuốc điều trị của ông cũng là những thuốc thông
thường, được mua từ các công ty dược. Thuốc thông thường nhưng phát huy
hiệu quả lớn chính là từ phương pháp điều trị đặc biệt: tiêm thuốc trực
tiếp vào các huyệt thần kinh điều hành hoạt động ở vùng bị đau. Những ca
bệnh nặng, ông kết hợp châm cứu với tiêm trực tiếp vào các huyệt. Với
phương pháp điều trị này, 28 năm qua kể từ khi nghỉ hưu, thầy thuốc
Nguyễn Quang Vinh đã điều trị cho hàng nghìn người khỏi bệnh. Trong đó
có những ca bệnh hiểm nghèo thập tử nhất sinh đã được ông cứu sống.
Đó là trường hợp ông Hoàng Văn Khoan,
79 tuổi, ở xóm Đống Cao, cùng thôn Cẩm Trung cùng quê với thầy thuốc
Vinh. Năm 1992, ông Khoan bị xuất huyết não. Người nhà gọi ông đến cấp
cứu. Tình trạng ông Khoan lúc đó đồng tử đã giãn, miệng há to như đang
thở hắt ra, mạch gần như không còn. Ông vẫn bình tĩnh tận tình cứu chữa.
Sau mũi thuốc cấp cứu đầu tiên, ông Khoan hồi lại, đồng tử đỡ giãn,
miệng có cử động. Ông Vinh khẩn trương làm tất cả những động tác cấp cứu
đối với người bị tai biến mạch máu não. Sau hơn một tiếng đồng hồ, ông
Khoan hồi lại, nhịp tim, nhịp thở dần trở lại. Ông tiếp tục điều trị,
một tuần sau thì ông Khoan hồi phục hoàn toàn, không để lại di chứng gì.
Đến nay đã 20 năm, ông Khoan - người được thầy thuốc Nguyễn Quang Vinh
cấp cứu dạo ấy vẫn sống khỏe mạnh cùng con, cháu, chắt và vẫn giúp con
cháu nhiều việc trong nhà.
Trong cuốn sổ ghi chép hàng trăm bệnh
nhân của ông, có bệnh nhân Nguyễn Khắc H., là cán bộ quân đội bị đau hơi
khác thường, mỗi lần lên cơn đau anh thường bị co quắp toàn thân. Bệnh
viện đầu ngành của quân đội chẩn đoán anh bị bệnh Zona thần kinh, khó
điều trị. Nhờ một người bạn giới thiệu, vợ anh đã đưa anh đến với thầy
thuốc Nguyễn Quang Vinh. Sau khi thăm khám, ông Vinh xác định anh H. bị
Zona thần kinh “ăn vào trong”, quyết định phác đồ điều trị Zona thần
kinh “thể âm”. Ngay từ ngày điều trị đầu tiên, anh H. đã thấy dễ chịu.
Một điều kỳ diệu là chỉ điều trị có 6 ngày, anh H. đã khỏi bệnh hoàn
toàn, trở về đơn vị tiếp tục công tác. Hơn hai năm nay, sức khỏe của anh
không có biến động gì. Sau khi điều trị khỏi bệnh, anh Nguyễn Khắc H.
trở thành người thân của gia đình thầy thuốc Nguyễn Quang Vinh.
Anh Ngô Văn Doanh, 25 tuổi, ở xóm Gia
Cao, thôn Cẩm Trang bị tai nạn xe máy nghiêm trọng, đã được Bệnh viện
Việt Đức cứu sống, nhưng bị liệt và mất trí nhớ. Hoàn cảnh gia đình
Doanh rất éo le. Bố bị bệnh ung thư vừa mới mất. Gia đình chỉ có một
mình Doanh là con trai. Doanh đang làm công nhân cơ khí ở Bắc Ninh, chưa
lấy vợ. Thấy Doanh bị liệt, gia đình rất lo, buồn. Là ông bác họ xa,
thầy thuốc Nguyễn Quang Vinh đến thăm Doanh, trao đổi với gia đình để
ông điều trị cho cháu. Gia đình nghe ông. Hằng ngày, cứ 5 giờ, người nhà
anh Doanh đón ông đến điều trị cho anh. Điều trị xong lại đưa ông về để
kịp điều trị cho các bệnh nhân khác. Cũng chỉ bằng phương pháp tiêm
thuốc trực tiếp vào các huyệt, kết hợp với châm cứu, ông chỉ điều trị
trong 12 ngày anh Doanh đã hồi phục, đi lại được. Toàn bộ tiền thuốc
điều trị chỉ hết 500 nghìn đồng. Gia đình vô cùng phấn khởi, anh Doanh
tiếp tục bồi dưỡng, luyện tập theo hướng dẫn, đến nay đã hồi phục hoàn
toàn.
Với hàng nghìn người bệnh được thầy
thuốc Nguyễn Quang Vinh điều trị khỏi bệnh, mỗi người một hoàn cảnh, mỗi
người là một câu chuyện ly kỳ, không thể kể hết. Chính tôi, người viết
bài này cũng là bệnh nhân vừa được thầy thuốc Nguyễn Quang Vinh chữa
khỏi bệnh chân bị tê hai năm nay. Ngày ấy là vào đầu năm 2011, tôi bị tê
hai chân, đã đi các bệnh viện điều trị, không khỏi. Ngày 14-9-2012 vừa
rồi, tôi đến nhà thầy thuốc Nguyễn Quang Vinh điều trị. Ông chẩn đoán
tôi bị đau thần kinh tọa. Ông điều trị cho tôi mất 8 ngày. Từ hai chân
bị tê nặng, ban đêm nằm ngủ thường bị chuột rút, không đêm nào ngủ được
yên giấc. Sau khi điều trị, cả hai chân tôi đã hết tê, khỏi hoàn toàn...
Tâm sự với chúng tôi ông nói: Ông sẽ
còn làm việc, chữa bệnh cứu người. Đến khi nào tuổi tác, sức khỏe không
cho phép nữa, ông mới phải dừng. Đó là tâm nguyện của ông - tâm nguyện
của một người thầy thuốc suốt đời vì sức khỏe nhân dân. Ông xứng đáng
với tấm Huy chương “Vì sức khỏe nhân dân” được Bộ Y tế tặng năm 1999.
Riêng tôi, tôi cảm nhận ông thực sự là một tấm gương sáng trong việc học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Bài và ảnh: Nguyễn Thế Tính- http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/56/58/58/223813/Default.aspx
Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012
Một kẻ trộm bị bắt quả tang 2 vụ trong một ngày
Giữa
trưa ngày 18/12/2012, gia đình ông Nguyễn Văn Cấp ở thôn Hồng Phong, xã Thường
Thắng phát hiện có người ở vườn nhà bên cạnh đang dùng gậy khều lấy quần áo của
gia đình phơi ở sân. Ôn Cấp đã hô mọi người bắt giữ. Kẻ gian là một cô gái, có một xe đạp
mi ly, mang theo một con chó khoảng 6 kg đựng trong bao dứa. Tại Công an xã
Thường Thắng, cô gái này khai tên là Nguyễn Thị Bẩy, sinh năm 1982, trú tại
thôn Mai Phong, xã Mai Trung. Con chó là do thị mới bắt trộm ở thôn Văn Tự, xã
Đức Thắng. Trên đường về qua thôn Hồng Phong, xã Thường Thắng, thấy nhà ông Cấp
phơi quần áo ở sân, trong nhà vắng vẻ, thị đã lẻn vào vườn nhà bên cạnh, lấy
gậy khểu quần áo để lấy thì bị bắt giữ.
Sau
khi lập biên bản, thu giữ con chó, quyết định phạt hành chính. Do thị Bẩy không
có tiền, Công an xã Thường Thắng đã giữ lại 1 xe đạp mi li và một điện thoại di
động Nôkia cũ rồi cho thị về. Vừa ra khỏi trụ sở Công an xã Thường Thắng chừng
30 mét, thị Bẩy đã đi nhờ xe đạp của một học sinh lớp 2 đang trên đường đi học.
Trưởng Công an xã Nguyễn Văn Thế phát hiện đã bắt thị xuống, trả xe cho em học
sinh.
Về
đến thôn Tam Sơn, xã Thường Thắng, thấy nhà anh Hiếu chỉ có trẻ nhỏ ở nhà, thị Bẩy
đã ghé vào xin nước uống. Thừa lúc trẻ mải chơi, thị đã lấy trộm một bình điện
đem đi. Thị vừa ra khỏi nhà thì bị phát hiện và lại bị bắt quả tang. Trưởng
thôn Tam Sơn cùng gia đình anh Hiếu đã báo cáo Công an xã đến lập biên bản và
giải thị về Công an xã giải quyết.
Công
an xã Thường Thắng đã liên lạc với Công an xã Mai Trung xác định đúng danh tính,
quê quán Nguyễn Thị Bẩy và phối hợp giải quyết.
Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012
CLB Thơ huyện Hiệp Hòa Đại hội nhiệm kỳ
Sáng
nay, ngày 15-12, tại UBND xã Hoàng Vân, CLB Thơ Việt Nam huyện Hiệp Hòa
đã tổ chức đại hội nhằm tổng kết nhiệm kỳ 2010- 2012, bàn phương hướng
hoạt đông trong nhiệm kỳ tới và bầu Ban chủ nhiệm CLB. Tới dự với đại
hội có ông Chu Quang Hiển, ủy viên Ban thường vụ huyện ủy, Trưởng ban tổ
chức Huyện ủy, ông Nguyễn Quang Chính, trưởng phòng văn hóa- thông tin,
ông Hoàng In, chủ tịch CLB Thơ Việt Nam tỉnh Bắc Giang, đại diện của
UBND xã Hoàng Vân, BBT Hiephoa.net, đại biểu các CLB Thơ Phú Bình,Yên
Thế, Việt Yên và hơn 50 hội viên của CLB đã về dự đông đủ. Ông Chu Bá
Mọc, chủ nhiệm CLB đã đọc báo cáo tổng kết, nêu bật những thành quả đã
đạt được trong hai nămqua, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của CLB và
khẳng định rõ những đóng góp thiết thực của CLB vào quá trình xây dựng
và phát triển của địa phương.Sau đó, các đại biêủ đã phát biểu ý kiến và
tặng hoa chúc mừng đại hội.
Phát
biểu tại Đại hội, ông Hoàng In, Chủ tịch CLB thơ Việt Nam tỉnh Bắc
Giang đã đánh giá cao thành tích hoạt động của CLB thơ huyện Hiệp Hòa
trong 2 năm qua. Theo ông, CLB thơ huyện Hiệp Hòa là CLB đứng thứ hai
trong tỉnh, sau CLB thơ thành phố Bắc Giang. Ông đã trực tiếp trao giấy
khen của BCH CLB thơ tỉnh Bắc Giang cho CLB thơ huyện Hiệp Hòa.
Nhân
dịp này, đại hội đã công bố quyết định kết nạp 8 hội viên mới; trao Kỷ
niệm chương "Vì sự nghiệp Thơ" cho 8 hội viên xuất sắc.Ban Chủ nhiệm đã
giới thiệu tập II thơ Hiệp Hòa mới xuất bản. Ông Nguyễn Xuân Miễn, phó
chủ nhiệm CLB đã giới thiệu tập thơ trước đại hội. Đại hội đã bầu ra Ban
chủ nhiệm mới gồm 5 người. Ông Chu Bá Mọc tái đắc cử chức chủ nhiệm
CLB.
Dưới đây là một số hình ảnh của đại hội
Ông Chu Quang Hiển- Trưởng Ban tổ chức Huyện ủy phát biểu và tặng hoa
Ông Nguyễn Quang Chính, Trưởng phòng Văn hóa huyện tặng hoa
Ông Nguyễn Thế Tính, BBT hiephoa.net tặng hoa
Ông Hoàng In trao Kỷ niệm chương cho các hội viên CLB thơ huyện Hiệp Hòa.
Trần Văn Thanh
Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012
Tấm lòng yêu quý trẻ thơ
Trong
hoạt đồng từ thiện, có một đối tượng mà Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ huyện Hiệp
Hòa thường quan tâm, đó là các cháu nhỏ ở các trường Mầm Non. Cùng với việc
tặng chăn cho các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, người
nghèo, Hội đã giành một phần tặng cho một số trường Mầm Non để bảo đảm cho các
cháu ngủ đủ ấm vào những trưa mùa đông giá rét. Ông Trương Văn Đơn, Chủ tịch
Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ huyện Hiệp Hòa cho biết, trong những đợt tặng chăn
vừa qua, Hội Doanh nghiệp đã giành 40 chiếc chăn tặng cho trường Mầm Non các xã:
Đồng Tân, Xuân Cẩm, Thường Thắng và trường Mầm Non Hoa Phượng. Món quà tuy
không lớn nhưng thể hiện tấm lòng yêu quý trẻ thơ của cán bộ Hội Doanh nghiệp
đã quan tâm đến việc nuôi dạy trẻ ở các nhà trường.
Dưới đây là hình ảnh tặng chăn ở trường Mầm Non xã
Thường Thắng và trường Mầm Non Hoa Phượng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






