Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

Chợ Thường phiên cuối năm (phóng sự ảnh)




 Việc xắm tết bây giờ không còn tập trung nhiều ở chợ. Phần thực phầm chủ yếu các gia đình thịt lợn nhà, 3, 4 nhà chung nhau thịt một con lợn. Rau dưa thì nhà tự trồng hoặc mua ở các quầy hàng nhỏ ở đầu thôn, kể cả bánh kẹo, hoặc buổi chiều đến các quầy hàng ở phố mua. nên chợ cuối năm nhưng cúng thưa người. Phần nhiều là con trẻ đi chơi chợ tết, người đi xắm hoa. Có người dắt díu con cháu đi chơi chợ tết. Không khí chợ cũng khác ngày xưa. Hôm nay hàng hóa bán cũng chạy. Mấy hàng thịt đến 10h30 đã bán gần hết. Đến 17h các quầy hàng đều bán hết hàng.



 Hàng rau hôm nay không nhiều nhưng cũng rẻ. Có người mua 20.000đ được 7 cây bắp cải.



 Quất bán cũng chạy, bãi quất 100 cây đến 9 h đã bán gần hết, nhà anh Tú có 100 cây đã bán được 80 cây.

Các quầy hoa là nhiều

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013

Bệnh nhân huyết áp, tiểu chúc tết các thầy thuốc



Buồng điều trị bệnh tiểu đường, huyết áp chỉ có bệnh nhân ngoại trú, số lượng có đến hàng nghìn người bệnh. Các ngày trong tuần đều đông bệnh nhân. Sô y, bác sĩ đảm nhiệm công việc khám bệnh, điều trị chỉ có 4 người. Có ngày chỉ có 3 người. Thầy thuốc với bệnh nhân chỉ tiếp súc trong thời gian rất ngắn khi lấy giấy đi xét nghiệm và khi có kết quả xét nghiệm để bác sĩ quyết định phác đồ điều trị (kê đơn thuốc), trừ một số trường hợp bệnh nhân mới, phải thăm khám hoặc trường hợp bệnh có biểu hiện đột biến. Bệnh nhân chờ đợi, khi lấy được đơn thuốc thì nhanh chóng đến Bảo hiểm y tế xếp hàng để làm thủ tục thanh toán viện phí, đi lấy thuốc rồi về. Ngày đông người khám, nhiều bệnh nhân phải mất cả ngày mới lấy được thuốc. Từ đó mà quan hệ giữa bệnh nhân với thầy thuốc gần như chỉ là quan hệ có tính nghĩa vụ và quyền lợi. Thày thuốc có nghĩa vụ khám, chữa bệnh cho dân. Bệnh nhân có quyền lợi được khám và chữa bệnh. Thầy thuốc làm xong nghĩa vụ, bệnh nhân nhận được quyền lợi coi như xong. Cứ thế, “đến hẹn lại lên”. 1 tháng hoặc 2 tháng một lần. Tính từ 30/7/2008, hơn 4 năm điều trị tại đây tôi đều chứng kiến cảnh này. Tuy nhiên tôi thấy các y, bác sĩ vẫn biết tên, nắm chắc tình hình bệnh tật của bệnh nhân. Thái độ cũng đúng mực. Những ngày tôi đến khám bệnh, chưa lần nào tôi thấy giữa các y, bác sĩ và bệnh nhân có vấn đề khúc mắc hoặc trục trặc.
Sáng nay, ngày 7/2/2013, tức ngày 27 tháng Chạp năm Nhâm Thìn (tháng thiếu, đã là 28 tết Quý Tỵ), Buồng điều trị huyết áp, tiểu đường vẫn đông bệnh nhất so với các buồng, nhưng là ngày ít bệnh nhân nhất trong năm của buồng, chỉ có khỏang hơn 20 người. Cũng là ngày hẹn khám, bệnh nhân HQ đã đem đến một bó hoa tươi và một thiếp chúc tết. Ông trao đổi với các bệnh nhân tặng cho các y, bác sĩ điều trị để động viên chị em. Mọi người đều hưởng ứng. Ông mời một số bệnh nhân dự trao hoa và chụp ảnh chung với các chị y, bác sĩ. Việc trao hoa chỉ diễn ra trong vòng 5 phút nhưng thật ý nghĩa. Nó thể hiện mối quan hệ tình cảm chân thành, gắn bó giữa bệnh nhân với thầy thuốc, góp một phần nhỏ vào việc xây dựng bệnh viện ngày càng tốt đẹp hơn.
Trong thiếp chúc mừng năm mới, ông HQ có mấy lời nôm na theo thể thơ bẩy chữ: "Bị bệnh nên tôi biết chị em/ Những y, bác sĩ chẳng thân quen/ “Lương y từ mẫu” thành thân thiện/ Thày thuốc, bệnh nhân thắm thiết quen./ Tết đến mong “Buồng”* luôn vững tiến./ Xuân về chúc các chị thêm xuân./ Nghề y đã tốt ngày càng tốt./ Sự nghiệp “mẹ hiền” đẹp sắc xuân."(* buồng điều trị).

Các y, bác sĩ buồng khám huyết áp, bệnh viện đa khoa huyện Hiệp Hòa

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa tổng két năm 2012



Chào mừng kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2013), sáng 2/2/2013, tại hội trường huyện ủy huyện Hiệp Hòa, Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) huyện Hiệp Hòa đã tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động năm 2012, triển khai phương hướng hoạt động năm 2013. Tới dự hội nghị, ở tỉnh có Tiến sĩ Phùng Văn Minh, Chủ tịch Hội DNN&V tỉnh Bắc Giang. Ở huyện có ông Nguyễn Văn Chính, ủy viên BTV Huyện Ủy, phó Chủ tịch UBND huyện, ông Nguyễn Văn Thắng, HUV, Chánh Văn phòng UBND huyện; ông Trần Hải Hồng, phó Chủ tịch UBMT Tổ Quốc huyện cùng đông đảo thành viên của Hội.
Trước khi vào nội dung tổng kết, Hội đã kết nạp 6 hội viên mới, đưa tổng số hội viên của Hội lên 51 đơn vị, gồm 9 Hợp tác xã, 10 DN tư nhân, 31 Công ty và 1 hội viên danh dự.
Ông Trương Văn Đơn, Chủ tịch Hội trình bày báo cáo tổng kết. Báo cáo nêu rõ: Năm 2012, trong tình hình kinh tế toàn cầu suy thoái, đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam. Những biện pháp chống suy thoái, chống lạm phát của nhà nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các DNN&V ở địa phương. Một số DN thiếu vốn trầm trọng. Trong tình hình đó, BCH Hội đã cùng các HTX, các DN chủ động tiếp cận quỹ hỗ trợ kinh tế tập thể trực thuộc Liên minh HTX tỉnh Bắc Giang vay trên 1 tỷ đồng để tạo vốn hoạt động. Đồng thời, UBND huyện và BCH Hội DNN&V tỉnh Bắc Giang đã có những giải pháp kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các DN hoạt động. Nhờ đó mà các DN đã đứng vững, vượt qua khó khăn, tiếp tục vươn lên. Với trên 220 DN hoạt động trên địa bàn huyện có tổng doanh thu ước tính trên 125 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế đạt 2,5 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng; góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động tại địa phương. Đặc biệt một số DN đã có bước phát triển cao như: Công ty xây dựng (CTXD) Hoàng Vân, CTXD san lấp mặt bằng Thành An, CTXD Hải Yến, CTXD Hồng Vân, CTTNHH Quang Bạo, CTCP Bệnh viện Hùng Cường, CT chế biến cao ngựa Hùng Hiền, CTTNHH một thành viên Yến Thành, xí nghiệp XD Hoàng Hà, HTX Mây tre đan Mai Trung, HTX Chăn ga gối đệm Thu Đông…
Cùng với hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển, Hội đã tích cực hoạt động ủng hộ từ thiện. Trong năm 2012, các thành viên đã ủng hộ 563.600.000đ vào quỹ “Vì người nghèo”, quỹ khuyến học, khám bệnh phát thuốc miễn phí cho người nghèo, người cao tuổi, nạn nhân chất độc da cam dioxin… Tiêu biểu có các đơn vị: Công ty cổ phần bệnh viện Hùng Cường 108 triệu đồng; HTX chăn ga thu đông: 78 triệu đồng; CTXD Hoàng Vân: 71 triệu đồng; CTXD Thành An: 60 triệu đồng; CTXDTM Quang Bạo: 43 triệu đồng; XNXD Hoàng Hà: 24,5 triệu đồng; CTXD Hải Yến: 24,5 triệu đồng; CTTNHH Yến Thành: 21 triệu đồng; CTXD Ngọc Thích:18 triệu đồng; CTXD Hồng Vân 17 triệu đồng; CT chế biến cao ngựa Hùng Hiền: 17 triệu đồng; Hội DNN&V: 12 triệu đồng; CTXD Bắc Băng Dương: 11,5 triệu đồng; CTXD Hà Chỉnh: 11 triệu đồng…. Đặc biệt, 20 doanh nghiệp đã ủng hộ 245 triệu để UBND huyện tổ chức băn pháo hoa đêm giao thừa tết Quý Tỵ sắp tới.
Hội nghị đã trao Bằng khen của Hiệp hội DNN&V Việt Nam cho HTX sản xuất chăn ga gối đệm thu đông và các cá nhân, gồm: ông Tạ Quang Đốc, GĐCTXD Yến Thành; ông Phạm Đình Nam, GĐCTXD Thành An; ông Đặng Minh Khang, GĐCTXD Hải Yến; ông Bùi Mạnh Tiến, GĐCTXD Hoàng Hà; ông Nguyễn Văn Vân, GĐCTXD Hồng Vân; ông Tạ Quang Bạo, GĐCTXDTM Quang Bạo; ông Trần Văn Vui, GĐCT Hùng Hiền.
Phát biểu tại hội nghị, ông Phùng Văn Minh, Chủ tịch Hội DNN&V tỉnh Bắc Giang; ông Nguyễn Văn Chính, phó Chủ tịch UBND huyện Hiệp Hòa đều ghi nhận thành tích hoạt động của Hội trong năm 2012. Trong phương hướng hoạt động năm 2013, các ông đều nhấn mạnh các doanh nghiệp cần phát huy khả năng đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Hội cần có những biện pháp thích hợp để phát triển hội viên, duy trì đều hoạt động. Hội DNN&V tỉnh Bắc Giang cũng như UBND huyện sẵn sàng hỗ trợ, tạo điều kiện để Hội hoạt động.
Dưới đây là một số hình ảnh hội nghị.
 Kết nạp hội viên mới
 Ông Trương Văn Đơn, Chủ tịch Hội đọc báo cáo tổng kết
GĐXN Phú Hiển Vinh phát biểu
Chủ tịch Hội DNN&V tỉnh Bắc Giang Phùng Văn Minh phát biểu
Phó Chủ tịch UBND huyện Nguyễn Văn Chính phát biểu

Hội trường hội nghị


 Khen thưởng các tập thể và cá nhân

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Thường Thắng tổ chức gặp mặt mừng Đảng - mừng Xuân Qúy Tỵ



Chào mừng kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2013), thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy huyện Hiệp Hòa và chương trình công tác năm 2013, sáng 01/2/2013, Đảng ủy xã Thường Thắng đã tổ chức cuộc gặp mặt Mừng Đảng – Mừng Xuân Quý Tỵ. Thành phần cuộc gặp mặt gồm: các đ/c đảng viên đã đảm nhiệm công tác chủ chốt của xã qua các thời kỳ, các đ/c đảng viên đã được nhận Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng trở lên, các đ/c là Bí thư các chi bộ, Trưởng các Ban, ngành, đoàn thể đương nhiệm và các đ/c đảng ủy viên của Đảng bộ.
Mở đầu cuộc gặp mặt là lễ trao Huy hiệu Đảng đợt 3/2 cho 3 đ/c có 50 năm tuổi Đảng và 1 đ/c có 40 năm tuổi Đảng. Mặc dù cuối buổi chiều 31/1/2013 Thường trực Đảng ủy mới nhận được các Quyết định trao Huy hiệu và Huy hiệu của trên gửi về nhưng sáng nay đã tổ chức trao kịp thời cho các đảng viên.
Trong chương trình gặp mặt, đ/c Trần Chi, Bí Thư Đảng ủy đã báo cáo ôn lại chặng đường 83 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, 67 năm hoạt động và trưởng thành của Đảng bộ xã Thường Thắng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, bên cạnh nhữnh thành tựu vĩ đại qua từng thời kỳ, Đảng ta cụng có những khuyết điểm, Đảng đã nghiêm túc kiểm điểm, nhận lỗi trước toàn dân. Quá trình xây dựng, trưởng thành của Đảng bộ xã Thường Thắng cũng vậy. Có thời gian nhiều năm liền là một Đảng bộ xuất sắc của huyện, nhưng cũng có những năm là đảng bộ yếu kém của huyện. Những yếu kém, những khuyết điểm đều được kiểm điểm nghiêm túc và quyết tâm sửa chữa vươn lên.
Đ/c Nguyễn Văn Năm, chủ tịch UBND xã đã báo cáo với hội nghị về kết quả xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội năm 2012; phương hướng chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2013. Trong đó nổi lên là năm 2012, Đảng bộ và nhân dân toàn xã đã phấn đấu hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu nhiệm vụ đề ra. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và 252 hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ vẫn hoạt động có hiệu quả, tạo việc làm cho hàng trăm lao động trong xã. Sản xuất nông nghiệp phát triển đều, trồng cấy hết diện tích, kịp thời vụ, năng xuất, sản lượng đều đạt 100% kế hoạch. Việc phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được coi trọng. Đàn gia súc gia cầm được duy trì đúng kế hoạch, không sảy ra dịch bệnh. Thu, chi ngân sách hoàn thành kế hoạch, đạt hơn 10 tỷ đồng. Giao thông, thủy lợi tiếp tục được đầu tư phát triển. Đã hoàn thành xây dựng công trình trường Mầm Non với tổng kinh phí dự toán gần 8 tỷ đồng; cải tạo nghĩa trang liệt sĩ với 190,45 triệu đồng, gia cố cống đá Chùa Hạ 44,5 triệu đồng; xây dựng 3 phòng chức năng Trạm y tế 199,7 triệu đồng. 6 thôn tiếp tục đổ bê tông đường làng theo tiêu chí nông thôn mới được 7,5 km với tổng kinh phí 3 tỷ 766 triệu đồng…
Thường trực Đảng ủy và UBND xã đã trình bày dự an xây dựng nhà làm việc, hội trường và khu trung tâm văn hóa, hành chính của xã để các đại biểu đóng góp ý kiến.
Dưới đây là một số hình ảnh buổi gặp mặt







Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

Đảng bộ xã Thường Thắng tổng kết công tác năm 2012



Sáng 21/1/2013, Đảng bộ xã Thường Thắng đã tổ chức tổng kết công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2012; triển khai nhiệm vụ năm 2013. Dự, chỉ đạo hội nghị có đồng chí Nguyễn Xuân Thảo, ủy viên Ban Thường vụ huyện ủy, Trưởng Ban Dân vận huyện ủy. Đông đủ đảng viên trong đảng bộ đã có mặt dự hội nghị.
Năm 2012, trong điều kiện khó khăn chung của đất nước, của quê hương Hiệp Hòa, Bắc Giang, đảng bộ xã Thường Thắng đã lãnh đạo hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ theo kế hoạch đề ra. Sản xuết công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và 252 hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ vẫn hoạt động có hiệu quả, tạo việc làm cho hàng trăm lao động trong xã, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương. Sản xuất nông nghiệp phát triển đều, trồng cấy hết diện tích, kịp thời vụ, năng xuất, sản lượng đều đạt 100% kế hoạch. Việc đưa giống mới vào sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật được quan tâm. Việc phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được coi trọng. Đàn gia súc gia cầm được duy trì theo kế hoạch, không sảy ra dịch bệnh. Thu, chi ngân sách hoàn thành kế hoạch, đạt hơn 10 tỷ đồng. Giao thông, thủy lợi tiếp tục được đầu tư phát triển. Đã hoàn thành xây dựng công trình trường Mầm Non với tổng kinh phí dự toán gần 8 tỷ đồng; cải tạo nghĩa trang liệt sĩ với 190,45 triệu đồng, gia cố cống đá Chùa hạ 44,5 triệu đồng; xây dựng 3 phòng chức năng Trạm y tế 199,7 triệu đồng. 6 thôn tiếp tục đổ bê tông đường làng theo tiêu chí nông thôn mới được 7,5 km với tổng kinh phí 3 tỷ 766 triệu đồng, trong đó nhà nước hỗ trợ thôn Tân Hiệp 65 triệu đồng…
Công tác lãnh đạo xây dựng Đảng bộ, xây dựng chính quyền, xây dựng các đoàn thể chính trị - xã hội được triển khai đồng bộ , đạy kết quả cao. Riêng về lãnh đạo xây dựng đảng bộ, đã triển khai thực hiện Nghị quyết hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) theo đúng tinh thần chỉ đạo của cấp ủy cấp trên, phân tích, kiểm điểm nghiêm túc những yếu kém, khuyết điểm của cấp ủy, của từng đ/c cấp ủy viên, của từng chi bộ và từng đảng viên. Kết quả phân loại trong tổng kết năm, đảng viên đủ tư cáh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm 08%; đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 60,2%; đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ chiếm 28,8%; đảng viên vi phạm tư cách không hoàn thành nhiệm vụ chiếm 03%.; 11/17 chi bộ đath Trong sạch vững mạnh, chiếm 64,8%; 3/17 chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ (17,6%); 3/17 chi bộ hoàn thành nhiệm vụ. Không có chi bộ yếu kém. Đảng bộ đạt mức hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Từ kết quả hoạt động năm 2012, hội nghị đã đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 2013 với 12 nhiệm vụ trọng tâm và mục tiêu phấn đấu đạt tiêu chuẩn Đảng bộ trong sạch vững mạnh.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, đ/c Nguyễn Xuân Thảo, ủy viên Ban Thưởng vụ huyện ủy đã đánh giá cao những kết quả lãnh đạo của đảng bộ. Đ/c cũng chỉ rõ những mặt còn hạn chế và chỉ ra những nội dung đảng bộ cần tập trung lãnh đạo trong năm 2013. Trong đó, nội dung quan trọng là tiếp tục thực hiện Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khóa XI), khắc phục triệt để những khuyết điểm đã kiểm điệm. Đặc biệt là công tác giáo dục chính tri, tư tưởng cho đảng viên, duy trì sinh hoạt đảng, phát triển đảng viên mới.
Dưới đây là một số hình ảnh hội nghị.











Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Lai lịch trại tò vò

Bài chuyển từ Blog trại tò vò sang.

Trại tò vò là nơi tôi sinh ra, nhưng thế hệ con cháu tôi thì không còn biết đến cái tên này. Từ tháng 10 năm 1954, sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, xã Hiệp Thắng được chia thành xã Chiến Thắng và xã Thắng lợi, trại tò vò cùng với ấp Nội Bông và ấp Nội Da hợp thành xóm Tam Sơn của xã Chiến Thắng (năm 1971 đổi tên thành xã Thường Thắng), huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
 Ngày xưa, các cụ thường đặt tên cho các cụm dân cư theo đặc điểm của từng nơi như: Bờ Đầm (dải đất gần vùng đầm nước), Nội Duối (dải đất có nhiều cây duối), Nội Bông (vùng đồi có nhiều loại cỏ bông), Nội Da (vùng đồi có nhiều cây đa), Đồng Chót (đồng ở cuối làng), Đồng Đoài (đồng ở phía Tây làng)… Vùng đồi các cụ nhà tôi khai phá được gọi tên theo đặc điểm xây dựng. Các cụ sau khi trồng tre, không chỉ đắp lũy như các cụm dân cư khác, mà nhào đất (thường gọi là xéo đất) đắp tường. Tường có chân dầy 60cm đến 80cm thu dần lên cao từ 1,2m đến 1,6m tùy từng đoạn, có đoạn cao đến 2 mét nhìn từ ngoài vào. Mặt trên của tường dầy từ 20cm đến 25cm, có mũ bằng đất gắn cành tre có gai hoặc mảnh chai, mảnh sành. Nhà nọ nối liền với nhà kia thành một bức tường vây khép kín bao quanh cả cụm dân cư. Bên trong mỗi nhà lại chia vườn ra từng mảnh, đều có tường vây, tạo thành hai, ba lớp tường, lớp vườn theo độ dốc của đất vườn rồi mới đên phần sân, nhà. Mỗi nhà để một lối đi hai bên đều có tường, có hai hoặc ba lớp cổng. Đời các cụ thường hay có cướp, làm như thế để chống cướp.  Nhà khá giả thì thuê người đắp tường, nấu cơm cho người ta ăn nếu cả vợ con đến giúp, gọi là làm hộ. Nếu chỉ có một người đến làm thì được trả thêm một bát gạo hoặc một dúm khoai lang ( quê tôi gọi là dúm củ - khoai lang cuốc về, để nguyên cả dây gốc, buộc túm lại, mỗi túm khoảng một hai kg, để héo, vặt ra, rửa sạch, cho vào nồi đất (sành), đậy kín vung, không cho nước, lấy một ít rơm quây xung quanh, đổ trấu kín, đốt lửa cho cháy âm ỉ từ trưa đến tối hoặc từ tối đến sáng, khoai chín ngọt như chuối chín, ăn rất ngon, thơm, thường gọi là khoai hầm, tiếng quê tôi gọi là củ hầm). Cũng chỉ có nhà cụ Bếp Phả mượn được người làm, còn các gia đình đều tự đắp tường. Thường tranh thủ đắp vào buổi tối, nói cho đúng là đắp vào ban đêm vì ban ngày thường phải đi làm mướn. Do đó dân làng đặt cho cái tên là Trại Tò Vò. Tôi muốn ghi lại lai lịch và sự phát triển của nơi tôi đã sinh ra để con cháu tôi, những Cử nhân, Tiến sĩ ngày nay biết kị, cụ, ông bà chúng ngày xưa đã lập lên cái Trại Tò vò như thế nào, những cách làm mà chúng khó có thể tưởng tượng được.
I.                  Về con người
Theo quan hệ họ hàng hiện tại thì Trại Tò Vò do hai gia đình gốc khai phá cách ngày nay khoảng 160 đến 180 năm. Anh em tôi là đời thứ 5. Anh con ông bác bên ngoại của tôi, cũng là người con trai đầu của đời thứ 5, năm nay 86 tuổi, nếu tính bình quân đời nọ cách đời kia 20 năm thì cũng đã có trên 160 năm. Bà nội tôi là đời thứ 3, mất năm 1938, thọ 64 tuổi, đến năm nay cũng đã là 135 năm, cộng thêm đời cụ ngoại, kỵ ngoại tôi thì cũng có trên 175 năm. Ở đời thứ 3 này, hai gia đình gốc thông gia vơi nhau, phát triển thành 8 hộ cùng với 5 hộ khác đến sau, tổng cộng là 13 hộ. Đến đời thứ 5 chúng tôi, chỉ tính con trai của 2 gia đình gốc đã có đến 36 hộ; không tính con gái vì tất cả con gái đều đi lấy chồng ở làng khác, thôn khác. Đời thứ 5 chúng tôi chỉ có duy nhất 1 người con gái lấy chồng tại Trại. 5 gia đình đến sau, đến đời chúng tôi cũng chỉ có 4 hộ, một hộ không phát triển. Trong 36 anh em cháu bác, cháu chú, cháu dì, cháu dà của 8 hộ nội ngoại chúng tôi có 25 người đi bộ đội (24 trai, 1 gái), 1 người chống pháp hy sinh, 4 người tham gia cả chống Pháp và chông Mỹ, 19 người lớp chúng tôi tham gia chống Mỹ, hy sinh 6 người, bị thương 2 người. Riêng nhà tôi có thêm cô em út cũng đi bộ đội chống mỹ. 5 hộ đến sau có 1 người đi bộ đội chống Pháp. Tổng cộng 13 hộ của Trại Tò Vò có 26 người đi bộ đội tính từ 1948 đến năm 1972. Hiện tại Trại Tò vò có 87 hộ, không kể 20 hộ tách ra ở chỗ khác và các nơi như gia đình tôi. Số nhân khẩu thì chưa thống kê được.
II. Về kinh tế
 Ngày xưa chỉ có nhà cụ Bếp Phả gọi là có dư dật, còn tất cả đều thuộc diện túng đói, phải đi làm thuê, làm mướn ở Ấp Lý Hạp tận Phú Bình. Năm 1945 có 1 người (bà Sải) chết đói ở ngay cầu xi măng ở đầu Trại khi đi làm sớm. Năm đó tôi còn bé nhưng vẫn nhớ như in hình ảnh và hương vị của cái bánh cám, bố mẹ tôi để phần cho riêng tôi, nướng bằng than rạ hơi cháy, to bằng cái chôn bát con (bằng cái bánh quy Hương Thảo bây giờ), thơm ngon có lẽ bánh quy bây giờ khó sánh được. Năm 1954 cũng bị đói, các gia đình đều phải ăn củ chuối, bầu, cà ghém thay cơm. Bố mẹ tôi thì vẫn giữ được một bữa cháo, còn là ăn bầu, cà ghém luộc, rau má, rau khúc xen với củ chuối. Thời gian đói kéo dài đến 2 – 3 tháng gì đó. Một số người đã bị phù thũng. Tôi vẫn nhớ câu hát do chúng tôi bịa ra là “ăn nhiều củ chuối nó đâm bệnh phù…” Ngày nay thì khá rồi. Con cháu chúng tôi cũng tiến kịp với sự phát tiển chung của xã hội ở nông thôn vùng đồi trung du miền núi thấp; hiện còn  hai hộ cận nghèo so với chuẩn nghèo của nhà nước. Tuy vậy, tất cả đều không phải ăn cơm độn sắn, khoai. Khoai sắn chỉ dùng để chăn nuôi. Bữa ăn đã có thịt, cá; có xe máy để đi lại (và cũng là phương tiện vận tải như một công cụ sản xuất), có tivi để xem. Đại bộ phận nhà ở đã xây bằng gạch, lợp ngói mũi, nền lát gạch men, sân cũng lát gạch; công trình phụ cũng xây bằng gạch, lợp ngói hoặc tấm lợp Pro. Có 3 cháu đời thứ 6 đã làm được nhà tầng.
III. Về văn hóa, học hành
 Có thể nói gọn một câu là từ đời bố tôi về trước không ai biết chữ. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, từ phong trào diệt giặc dốt, một số ông và các anh tôi được học đến biết đọc, biết viết. Riêng ông Nguyễn Văn Phê biết làm toán cộng, trừ đã dậy cho chúng tôi sau này. Năm 1954, sau hòa bình xã tôi mới có trường học. Chúng tôi là lớp được đi học đầu tiên của Trại Tò Vò cũng như của xã. Trước chúng tôi chỉ có dăm anh gia đình khá giả được đi học, nhưng phải lên tận xã Đưc Thắng hoặc Phú Bình Thái Nguyên mới có trường. Phần lớn các anh sau này được học ở trong Quân đội. Đại bộ phận các bà, các chị được học bổ túc văn hóa trong các năm 1957-1960 mà chúng tôi đã trực tiếp dậy cho họ. Nhờ học lỏm rồi học bình dân học vụ mà khi có trường tôi được vào học ngay lớp 2. Cùng lớp với tôi có cả các anh hơn tôi 6 tuổi. Năm ấy tôi 12 tuổi, là một trong 2 đứa ít tuổi nhất lớp với 24 học sinh lớp đầu của xã. Lên đến cấp II thì cả xã còn được 8 người học ở trường cấp II Hiệp Hòa. Thi đỗ và học lên cấp III, cả xã chỉ có hai anh em tôi là cháu dì cháu già. Trại Tò vò thì chỉ có mình tôi. Hồi đó đi học gian nan lắm. Hè năm 1960, tôi đi đắp đê ở Yên Dũng, được chia 3,6 đồng. Đem về tôi mua được 20 con vịt, nuôi lớn, chết mất 3 con, còn 17 con, bán được 36 đồng, bố tôi mua 3 con lợn con, nuôi một tháng, bán đi một con được 23 đồng, vay hợp tác xã tín dụng 50 đồng để may quần áo, mua sách vở. Hồi đó ở Hiệp Hòa chưa có trường cấp III, tôi phải lên thị xã Bắc Giang học tại trường cấp III Ngô Sĩ Liên. Thời đó học sinh đi học được phân 13kg phiếu gạo, được mua 10kg gạo, còn 3kg phiếu phải mua độn, thường là khoai lang, 1kg phiếu được mua 3kg khoai. Củi được mua 5kg. Chúng tôi thường làm quen với các cô, các chị bán gạo, bán củi để được mua thêm một hai kg khoai mỗi lần, hoặc củi loại một thì tính loại 2, loại 3. Các chị, các cô cũng thường hay chiếu cố học sinh. Cũng may, anh cả tôi là bộ đội chuyển ngành làm công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm, những năm sau,mỗi tháng anh tôi cho tôi 10 đồng đủ để ăn học. Tôi phải trọ học ở làng Vĩnh Linh, cách trường gần 2km. Thường Thường mỗi tháng tôi mua cả gạo, củi, rau muối, dầu đèn hết 9 đồng rưỡi, còn 5 hào để dự phòng hoặc đi xem phim. Hai, ba tuần một lần về nhà nghỉ chủ nhật, đem thêm củi, tương để ăn. Nhớ một lần tôi mang một bó củi dong và một chai tương, đến Sen Hồ tôi gửi anh bạn đi tầu hỏa mang hộ. Tôi không có tiền đi tầu, phải đi bộ. Từ ga Sen Hồ lên Bắc Giang 10km, mất hai hào tiền tầu. Anh bạn tôi đem chai tương lên tầu, tầu chạy một đoạn, chai tương nổ tung nút, tương bắn tung lên trần tầu, văng vào mọi người xung quanh. Mọi người la mắng. Anh bạn tôi vẫn nhặt nút chai nút lại. Chai tương chỉ còn một ít, toàn nước, đủ một bữa ăn.
Kể lại một chút chuyện học hành của ngày xưa cho con cháu biết. Ngày nay thì chẳng bao giờ có cái cảnh ấy. Cũng kể lại chuyện này để nói rằng, việc con cháu  tôi đều học được hết Đại học là tôi hạnh phúc lắm. Nhất là con trai đầu của tôi, Nguyễn Ngọc Oanh đạt được bằng tốt nghiệp Tiến sĩ là điều mơ ước lớn nhất của đời tôi.
Nguyễn Ngọc Oanh cũng sinh ra tại Trại Tò vò, ngày 18/1/1965, khi tôi đã có mặt ở chiến trường Trị - Thiên – Huế được 9 tháng. Tháng 10/1966 tôi mới nhận được thư nhà và ảnh của cháu. Cái ảnh ở đầu trang BLog Trai cầu vồng Yên Thế đấy. Hồi đó có chiến tranh, mẹ cháu và ông bà nội nuôi cháu cũng khá vất vả. Sữa mẹ không đủ. Thỉnh thoảng bà ngoại làm cán bộ phụ nữ xã xin mua được hộp sữa bò lại đem cho cháu. Bữa ăn ưu tiên nhất là cháu được ăn một quả trứng vịt sào với muối, còn chủ yếu là ăn cơm với dưa, cà, cua, cá do các cô đi bắt ở đồng. Nhiêu bữa chỉ ăn cơm với muối trắng, không phải muối tinh như bây giờ đâu, mà là muối “cộ”, hạt muối to bằng hạt ngô. Lúc bé, sau thời kỳ ăn bột, trẻ con thường ăn cơm “búng”. Mẹ  (thường là bà nội), nhai độ nửa bát cơm nhiễn ra, lấy hạt muối mút một ít cho vừa rồi mớm cho trẻ. Oanh được 18 tháng thì ở nhà với ông bà nội, mẹ  được tuyển vào ngành Công an. Đó cũng là sự may mắn cho cuộc sống của gia đình sau này. Lúc 3 - 4 tuổi, có lần Oanh bị kiết lị, nhòm như con mèo hen, suốt ngày quấy khóc, bắt cô Bình bế cả ngày đêm, không cho cô được ngủ.  Năm 1972, tôi ở chiến trường ra nghỉ phép mới làm thủ tục đem cháu lên cơ quan ở với mẹ, học ở trường xã Dĩnh Trì. Cháu học cũng được và có ý thức tự lập rất sớm. Đó cũng là đặc điểm trên bước đường trưởng thành sau này, xứng đáng là con trai của Trại Tò Vò xa xưa. Hiện tại, Trại Tò Vò có 4 cháu học xong Đại học, 6 cháu học xong Cao đẳng, 4 cháu đang học Đại học  (5 cháu ở đời thứ 6 và 9 cháu ở đời thứ 7).
Ghi lại một chút để con cháu biết đến thời gian nan lúc nhỏ, mà thấy sự sung sướng bây giờ ./.

Tư liệu trại tò vò

Bài chuyển từ Blog Trại tò vò sang

TÊN CÁC CỤ HAI GIA TỘC KHAI PHÁ TRẠI TÒ VÒ

1. Gia tộc cụ Tự Phúc Chí (đời thứ 2), bố của cụ Bếp Phả và cụ Ba. Vì là chi thứ nên chưa biết tên cụ tổ.Ở Bờ Đầm lên. Cụ Ba làm rể cụ Kính em cụ Thành (tư liệu này còn phải kiểm tra lại). Hai nhà thông gia từ đời thứ 4.
2. Gia tộc cụ Tự Phúc Chương (đời thứ 2), bố của cụ Tự Phúc Thành, ông nội của cụ Tự Phúc Khoản. Là chi thứ ở Đồng Chót lên. Không nhớ tên cụ tổ. Chỉ biết 3 đời trước cụ Khoản đều độc đinh (chỉ có một người con trai).

MỘT SỐ HÌNH ẢNH XƯA VÀ NAY


Hệ thống tường vườn đắp bằng đất còn lại. Đoạn tường này được đắp từ đời cụ Khoản, bố ông Thử. Ông Thử năm nay đã 86 tuổi. Những đoạn đất trông còn mới là do mưa gió bị đổ, con cháu đắp lại.



Những đoạn tường đất đắp từ thời khai hiên lập trại, đời cụ Thành. Tường cổng ngày xưa. Hậu duệ đời thứ 7 đang ở trên đất này, đã xây lại những đoạn bị đổ do thời gian và mưa gió.


Hệ thống tường bao quanh trại và cổng của con cháu ngày nay (Xuân Canh Dần 2010)

NHỮNG NGÔI NHÀ CỦA HẬU DUỆ ĐỜI THỨ 6,THỨ 7


Nhà của cháu Thao, cháu nội của liệt sĩ Nguyễn Văn Nhỡ, hậu duệ đời thứ 7.


Nhà của cháu Kính, con liệt sĩ Nguyễn Văn Đường. Bố đi bộ đội năm 1966, lúc cháu Kính được 2 tuổi và hy sinh ở chiến trường miền Nam. Kính chưa nhớ rõ mặt bố. Cháu chỉ làm ruộng và làm thêm nghề thợ mộc. Cháu làm nhà năm 2008 (45 tuổi), hoàn toàn tự lập, không phải vay mượn ai.


Nhà cháu Hồng, hâu duệ đời thứ 6 của cụ Chương. Con mương T46 này có từ khi Pháp xây dựng hệ thống thủy nông Sông Cầu, mới được cứng hóa tháng 12/2009.


Nhà của cháu Hưởng, hậu duệ đời thứ 6 gia tộc cụ Chí. Ở chính cây cầu xi măng này, bà Sải đã bị chết đói năm 1945. Đây cũng là một góc của trại Tò vò thời nay.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VUI XUÂN CANH DẦN 2010 CỦA CON CHÁU TRẠI TÒ VÒ.


Ngôi điếm cổ được xây dựng từ thời lập trại ổn định. Đã được sửa chữa nhiều lần nhưng vẫn giữ nguyên hình dáng cũ trên nền và tường cũ. Tường xây bằng đá ong. Nơi tổ chức vui chơi hàng năm. Đây là nơi khai sinh các thế hệ con cháu cac đời. Ngày xưa, tất cả con trai sinh ra, ngày mùng 1 và mùng 4 tết đem một cỗ xôi, 1 con gà ra điếm cúng gọi là xôi hàng xóm, đồng thời mang một cỗ xôi, con gà đến đình làng làm lễ coi như đã được khai sinh, có xuất đinh, có ruộng.


Ngày xưa là chơi bịt mắt đập niêu, bây giờ là đập chai.


Chọi gà.


Đánh vật

.
Thi đấu cờ tướng.
Ngày xuân, cấy lúa trồng mầu đã xong, các cụ ông, cụ bà trong trại cùng con cháu tổ chức vui chơi để con cháu biết và nhớ truyền thống xưa.

DANH SÁCH CÁC LIỆT SĨ CỦA TRẠI TÒ VO:

1. Ông Nguyễn Văn Lục, sinh năm 1930, hy sinh trước ngày hòa bình năm 1954 tại Bắc Ninh.
2. Ông Nguyễn Văn Bái, sinh năm 1931, hy sinh năm 1968 tại miền Nam.
3. Ông Nguyễn Văn Nhỡ, sinh năm 1932, hy sinh năm 1966 tại miền Nam.
4. Ông Nguyễn Văn Mùi, sinh năm 1934, hy sinh năm 1968 tại miền Nam.
5. Ông Nguyễn Văn Đường, sinh năm 1938, hy sinh năm 1968 tại miền Nam.
6. Ông Nguyễn Văn Bẩy, sinh năm 1944, hy sinh 1968 tại miền Nam
7. Ông Nguyễn Văn Ân, sinh năm 1947, hy sinh 1968 tại miền Nam.
(Ông Nhỡ, ông Mùi, ông Bẩy là 3 anh em ruột)
BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG CỦA 3 LIỆT SI LÀ CỤ NGUYỄN THỊ CÔ.

Ngày 15 tháng Giêng năm Canh Dần 2010.
Có thể nói Trại Tò vò là hình ảnh thu nhỏ của nông dân, nông thôn xã Thường Thắng xưa và nay.